Hợp thức hoá lao động

Thực hiện hỗ trợ kinh phí đào tạo cho các trường, tổ chức đào tạo nghề theo kết quả đầu ra, như số học viên được đào tạo theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, số học viên tốt nghiệp đạt chuẩn nghề theo mức trung bình của khu vực, số học viên tốt nghiệp có được việc làm trong 6 tháng kể từ khi tốt nghiệp,…

- Khuyến khích doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp quy mô lớn, tự đào tạo lao động phục vụ nhu cầu của bản thân, của các doanh nghiệp bạn hàng, đối tác và các doanh nghiệp có liên quan khác.

Bốn là, xây dựng lại chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao các kỹ năng mềm cho sinh viên. Đánh giá một cách khách quan cho thấy, hệ thống đào tạo của nước ta còn tồn tại nhiều bất cập, cơ sở vật chất chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo, phương thức đào tạo vẫn theo kiểu cũ, thiếu tính tương tác, sự gắn kết với thực tiễn, học không đi đôi với hành, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội đặc biệt trong xu thế phát triển của CMCN 4.0. Do đó, cần sớm đổi mới chương trình, nội dung đào tạo đại học theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực và phù hợp. Cải cách hệ thống giáo dục, đào tạo, ưu tiên cho các ngành khoa học kỹ thuật, đào tạo hướng nghiệp gắn với việc làm và theo nhu cầu của xã hội. Việc đào tạo cũng cần tiếp cận theo hướng đa ngành thay vì chuyên ngành như trước đây, đồng thời tăng cường sự phản biện của người học. Quản trị đại học cũng cần có sự thay đổi, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dậy, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý.

Đặc biệt, trong thời kỳ kỹ thuật số như hiện nay, các trường đại học cũng cần nghiên cứu, bổ sung thêm các chuyên ngành đào tạo các nghề về ICT, blockchain, trí tuệ nhân tạo (AI) để đáp ứng về nhu cầu nhân lực CMCN4.0. Ngoài ra, một thực tế nữa cho thấy, lao động của Việt Nam vẫn hạn chế trong việc sở hữu các kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ, khả năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ thông tin và khả năng sáng tạo. Nhiều lao động dù đã qua đào tạo, nhưng khi làm việc vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu khiến người sử dụng lao động mất thời gian đào tạo lại. Do đó, một giải pháp đưa ra đó là cần trang bị các kỹ năng mềm cho sinh viên ngay từ trong nhà trường, bằng cách đưa kỹ năng mềm vào trong chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra cho sinh viên. Không những thế cần khuyến khích và đẩy mạnh việc tự học của sinh viên, tăng cường việc dạy thực tiễn từ các chuyên gia, doanh nhân… không chỉ 100% kiến thức là giáo viên giảng dạy.

Yêu cầu số hóa từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

CMCN 4.0 là sự hội tụ của một loạt các công nghệ mới xuất hiện dựa trên nền tảng kết nối và công nghệ số, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Các công nghệ, lĩnh vực mới có thể kể đến như: Internet kết nối vạn vật (IoT); Cơ sở dữ liệu tập trung (Big data); Trí tuệ nhân tạo (AI); Năng lượng tái tạo/ Công nghệ sạch (Renewable energy/ Clean tech); Người máy (Robotics); Công nghệ in 3D (3D printing); Vật liệu mới (graphene, skyrmions, bio-plastic,...); Blockchain; Kết nối thực ảo (Virtual/Augmented Reality); Thành phố thông minh (Smart cities); Công nghệ màng mỏng (Fintech); Các nền kinh tế chia sẻ (Shared economics)... Khác với các cuộc cách mạng trước đó, CMCN 4.0 có sự khác biệt rất lớn về tốc độ, phạm vi và sự tác động. Cuộc cách mạng này có tốc độ phát triển và lan truyền nhanh hơn rất nhiều so với trước đó. Phạm vi của CMCN 4.0 diễn ra rộng lớn, bao trùm, trong tất cả các lĩnh vực, từ sản xuất chế tạo đến dịch vụ, và dịch vụ công.

Hợp thức hoá lao động

CMCN 4.0 dự báo sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới, tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, nhà nước, chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân,... tạo ra nền kinh tế số. Do đó, để duy trì lợi thế cạnh tranh và có thể bắt kịp được các nước tiên tiến, các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều đang tập trung phát triển kinh tế số và ứng dụng các thành tựu công nghệ của CMCN 4.0. Điều này tạo cơ hội công ăn việc làm mới, tăng năng suất cho người lao động... Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra thách thức về chất lượng lao động và khả năng người lao động bị thay thế bởi robot, máy móc...
2. Thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam

Bên cạnh những tác động to lớn mà kinh tế số đem lại thì cũng có nhiều thách thức được đặt ra đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu lao động và thị trường lao động. Hệ thống tự động hóa sẽ thay thế dần lao động thủ công trong toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, sự chuyển dịch từ nhân công sang máy móc sẽ gia tăng chênh lệch giữa lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận với sức lao động, điều này sẽ tác động đến thu nhập của lao động giản đơn và gia tăng thất nghiệp. Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) có đến 86% lao động cho các ngành Dệt may và Giày dép của Việt Nam có nguy cơ cao mất việc làm dưới tác động của những đột phá về công nghệ do cuộc CMCN 4.0. Nguy cơ này có thể chuyển thành con số thiệt hại không hề nhỏ khi các ngành như Dệt may, Giày dép đã tạo ra số lượng lớn việc làm cho lao động trong nước.

Hợp thức hoá lao động

Việc các doanh nghiệp nước ngoài muốn gia nhập thị trường Việt Nam nhưng chưa nắm rõ các quy định của luật lao động Việt Nam; doanh nghiệp có đội ngũ nhân sự quá đông mà phòng nhân sự không đủ mạnh để quản lý hết các công việc liên quan hay doanh nghiệp muốn giảm thiểu chi phí quản lý nguồn nhân lực mà doanh nghiệp không có chuyên môn trong đó thì dịch vụ Hợp thức hóa lao động của TTV sẽ là sự lựa chọn phù hợp. Dịch vụ Hợp thức hóa lao động TTV là hình thức mà trong đó Đối tác vẫn tự chủ động trong việc tổ chức tuyển dụng ứng viên theo yêu cầu công việc riêng của mình và ủy thác việc ký hợp đồng lao động và quản lý toàn bộ mặt nhân sự này cho chúng tôi trực tiếp chịu trách nhiệm.

Số lượng công việc cần lao động chất lượng cao ngày càng gia tăng, trong khi thứ hạng chỉ số lao động có chất lượng của Việt Nam còn đứng ở vị trí thấp. Ví dụ điển hình là ngành Công nghệ thông tin. Ước tính mỗi năm, nhu cầu tuyển dụng vẫn tăng đều đặn gần 50%, trong khi thực tế với 500.000 ứng viên công nghệ thông tin ra trường chỉ có 8% đáp ứng được nhu cầu này. Thực tế này cho thấy, chất lượng nguồn lao động đặc biệt là ngành Kỹ thuật hiện đang trở thành đòi hỏi bức thiết. Theo các bản báo cáo của Vietnamworks, có gần 15.000 nhân sự trong ngành Công nghệ thông tin Việt Nam được tuyển dụng trong năm 2016; đến cuối năm 2018, ngành này thiếu hụt khoảng 70.000 người và đến năm 2020 sẽ là 500.000 người.


Tìm hiểu về tình trạng nguồn nhân lực
Muốn có những thay đổi, cải cách, bước tiến mới trong việc quản lý nguồn nhân lực hiện nay, trước hết bạn cần có cái nhìn khái quát về hiện trạng nguồn nhân lực chung, để từ  đó doanh nghiệp của bạn mới đi sâu phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp. Việc phân tích và đánh giá đúng thực lực nguồn nhân lực sẵn có và nguồn nhân lực tiềm ẩn giúp cho doanh nghiệp dễ dàng sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc.
 

Phát triển nguồn nhân lực sẵn có
Dù trong thời đại nào đi chăng nữa , việc tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có luôn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty. Để phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao, điều đầu tiên bạn cần làm chính là sàng lọc, đào tạo nguồn nhân lực sẵn có, đưa ra những chính sách để bồi dưỡng nhân viên trở nên chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu công việc đề ra.

Tuyển dụng nhân tài
Để sở hữu được nguồn nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp không những tận dụng mọi tiềm năng sẵn có mà còn cần đưa ra những chính sách thu hút và tìm kiếm nhân tài. Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần xây dựng được một chính sách đãi ngộ tốt với mức lương và phúc lợi ổn định, xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, năng động, văn hoá doanh nghiệp lành mạnh, ấn tượng. Đồng thời, để có thể tiếp cận với nguồn nhân tài, các doanh nghiệp có thể lựa chọn phối hợp với các trường đại học, trung tâm đào tạo để thực hiện các ngày hội tuyển dụng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có sự sàng lọc và tuyển chọn nghiêm túc, kĩ lưỡng để có thể tìm ra được những nhân tài thực sự phù hợp cho công việc

Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chưa bao giờ là đơn giản đối với bất kì một doanh nghiệp nào. Đặc biệt trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra vô cùng quyết liệt này, các doanh nghiệp cần hết sức chú trọng vấn đề nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát triển doanh nghiệp lên một tầm cao mới, có vị trí vững chắc trong xã hội.

Lợi thế thứ ba, chất lượng lao động từng bước được nâng lên; Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp (DN) và thị trường. Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam cơ bản đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà đây phải thuê chuyên gia nước ngoài…

Thách thức đặt ra

Bên cạnh những lợi thế trên, nguồn nhân lực ở Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức sau:

Hợp thức hoá lao động

Thách thức lớn nhất là tính cạnh tranh trong thị trường nhân lực ngày càng rất cao, trong khi mức độ sẵn sàng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) Việt Nam còn chậm. Cạnh tranh giữa nước ta với các nước trên thế giới trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng cao ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng GDNN phải được cải thiện đáng kể theo hướng tiếp cận được các chuẩn của khu vực và thế giới, tăng cường khả năng công nhận văn bằng chứng chỉ giữa Việt Nam và các nước khác.

Thách thức thứ hai là Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số; cùng với đó là nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ hiện tượng biến đổi khí hậu khiến một số ngành suy giảm lợi thế cạnh tranh.

Thách thức thứ ba, chất lượng NNL ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, chất lượng lao động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và hội nhập; Khoảng cách giữa GDNN và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn. Hơn nữa, sự chuyển dịch mô hình, cơ cấu kinh tế khiến cho cung và cầu trong lao động thay đổi, trong khi các ngành nghề đào tạo trong nhà trường chưa bắt kịp được xu thế sử dụng lao động của DN. Khảo sát cho thấy, khả năng hòa nhập của học sinh, sinh viên Việt Nam sau tốt nghiệp trong môi trường lao động mới còn yếu; Khả năng thích ứng với thay đổi, kỹ năng thực hành và ý thức, tác phong làm việc cũng là những thách thức không nhỏ đối với lao động Việt Nam.

Thách thức thứ tư, cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao sẽ diễn ra mạnh mẽ trên bình diện thế giới, khu vực và quốc gia. Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định. Theo các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng, thái độ và tâm lý để sẵn sàng di chuyển của lao động Việt Nam hiện nay chưa cao.

Thách thức thứ năm, NSLĐ của Việt Nam còn thấp. Chất lượng nhân lực trong nước so với các nước trong khu vực còn chưa đồng đều, nhất là về kỹ năng nghề. Khoa học, công nghệ nước ta chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao NSLĐ, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam cũng chưa có giải pháp đủ mạnh để khuyến khích DN và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ.

Theo một nghiên cứu gần đây của Viện Khoa học Lao động xã hội, NSLĐ ở Việt Nam và trình độ quản trị DN hiện nay rất thấp, 2/3 người lao động đang thiếu kỹ năng về lao động và kỹ thuật; 55% số DN cho rằng rất khó tìm kiếm nguồn lao động có chất lượng cao. Trong khi trên 60% số DN FDI đang có kế hoạch mở rộng đầu tư tại Việt Nam nhưng nếu nước ta không nâng cao chất lượng nguồn lao động thì rất khó có thể thu hút nguồn vốn đầu tư.

 Thách thức thứ sáu, chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh tế trong giai đoạn suy giảm, tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động. Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp, chưa đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm. Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao; chất lượng lao động thấp.

Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2017 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố cho thấy, 69% số DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đang vấp phải khó khăn trong tuyển dụng cán bộ kỹ thuật có tay nghề để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Báo cáo cũng nhận định, chất lượng NNL Việt Nam chưa có nhiều đột phá. DN FDI đánh giá chất lượng đào tạo và hiệu quả của lao động Việt Nam năm 2017 chỉ đạt 3,8 điểm. Vì vậy, DN phải chi nhiều tiền hơn cho hoạt động đào tạo khi tuyển dụng nhân sự mới, mức độ chi tăng qua các năm.

 


Ổ cắm mạng Commscope Cat5e
© 2007 - 2021 https://dulichphuquoc.daihocquocte.org
- Phone: +84-908-744-256